
Pháp luật với vấn đề cưỡng bức lao động
Pháp luật lao động đặt ra vấn đề quan trọng về cưỡng bức lao động, một tình trạng đe dọa quyền và điều kiện lao động của người lao động để bắt người lao động thực hiện công việc mà họ không đồng ý. Hành vi này không chỉ vi phạm quyền lao động mà còn đe dọa đến tính mạng và sức khỏe của người lao động. Vậy hãy cùng Thủ tục pháp luật tìm hiểu, lao động cưỡng bức là gì và làm thế nào để xử lý các hành vi này dưới góc độ pháp luật?
Cưỡng bức ao động là gì?
Lao động cưỡng bức là một hành vi vi phạm quyền và điều kiện lao động của người lao động bằng cách sử dụng vũ lực, đe dọa bằng vũ lực, hoặc các phương tiện và thủ đoạn khác để bắt người lao động thực hiện công việc mà họ không đồng ý hoặc trong môi trường làm việc không đảm bảo quyền và lợi ích của họ. Trong bối cảnh này, người lao động thường bị ép buộc làm việc trái ý muốn của họ, và điều này là không hợp pháp và bị nghiêm trọng khi vi phạm quyền lao động và luật lao động.
Theo đó, để nhận diện các hành vi được xác định là cưỡng bức lao động, Tổ chức Lao động quốc tế đã ban hành ấn phẩm “Các dấu hiệu nhận biết lao động cưỡng bức” trong Chương trình hành động đặc biệt phòng, chống lao động cưỡng bức.
Trong đó, một số dấu hiệu nhận diện được xác định bao gồm:
- Lạm dụng tình trạng khó khăn của người lao động;
- Lừa gạt;
- Hạn chế đi lại;
- Bị cô lập;
- Bạo lực thân thể và tình dục;
- Dọa nạt, đe dọa;
- Giữ giấy tờ tùy thân;
- Giữ tiền lương;
- Lệ thuộc vì nợ;
- Điều kiện sống và làm việc bị lạm dụng;
- Làm thêm giờ quá quy định…
Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cưỡng bức lao động
Người sử dụng lao động có hành vi cưỡng bức lao động sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam. Mức xử phạt phụ thuộc vào loại hành vi vi phạm cụ thể và được quy định tại các điều khoản của Nghị định 12/2022/NĐ-CP.
Dưới đây là một số trường hợp và mức xử phạt cụ thể liên quan đến cưỡng bức lao động:
- Vi phạm về tuyển dụng, quản lý lao động
Lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích bóc lột hoặc cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng (khoản 3 Điều 8 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).
- Vi phạm quy định về thực hiện hợp đồng lao động
Cưỡng bức lao động hoặc ngược đãi người lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng (khoản 4 Điều 11 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).
- Vi phạm của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Lợi dụng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép, bóc lột hoặc cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng (khoản 9 Điều 42 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).
- Vi phạm quy định về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu công trình, dự án ở nước ngoài
Lợi dụng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép hoặc bóc lột hoặc cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng (khoản 8 Điều 43 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).
- Vi phạm quy định về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài của tổ chức, cá nhân Việt Nam đầu tư ra nước ngoài
Lợi dụng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép hoặc bóc lột hoặc cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: Phạt tiền từ 75.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng (khoản 7 Điều 44 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).
- Vi phạm của doanh nghiệp Việt Nam đưa người lao động Việt Nam đi đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề ở nước ngoài
Lợi dụng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép hoặc bóc lột hoặc cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng (khoản 6 Điều 45 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).
Mức phạt hành chính này sẽ được áp dụng tùy theo hành vi vi phạm cụ thể và quy định của pháp luật.
Trường hợp nào cưỡng bức lao động bị xử lý hình sự?
Cưỡng bức lao động là hành vi sử dụng vũ lực, đe dọa bằng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác để ép buộc người khác phải lao động theo ý muốn của họ. Trong luật hình sự Việt Nam, các trường hợp cưỡng bức lao động bị xử lý hình sự được quy định tại Điều 297 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017. Cụ thể, những trường hợp sau đây có thể bị xử lý về tội cưỡng bức lao động:
- Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về tội cưỡng bức lao động, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm lại.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% - 60%.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ít nhất hai người mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% - 60%.
Đối với các trường hợp trên, luật hình sự Việt Nam quy định các mức hình phạt chính và bổ sung như sau:
Hình phạt chính:
- Khung 01: Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Khung 02: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
- Khung 03: Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
Hình phạt bổ sung:
- Phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng.
- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Những hành vi cưỡng bức lao động được coi là nghiêm trọng và bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động.
Kết luận
Việc đối phó với cưỡng bức lao động là một trong những ưu tiên hàng đầu của hệ thống pháp luật lao động tại Việt Nam. Sự xác định và xử lý nghiêm các hành vi cưỡng bức lao động không chỉ đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động mà còn góp phần vào việc bảo vệ và thúc đẩy sự công bằng và công lý trong môi trường lao động. Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính và hình sự một cách nghiêm túc và công bằng là cần thiết để đảm bảo rằng người lao động được đối xử với sự tôn trọng và bình đẳng, và để ngăn chặn các hành vi cưỡng bức lao động trong xã hội.
