0888889366
timeline_post_file65a39d547ff94-LG--31-.png

Người lao động được đi trễ, về sớm trong trường hợp nào?

Khi tham gia vào quá trình lao động thì thời giờ làm việc đóng vai trò rất quan trọng. Do đó, để hiểu rõ việc người lao động được đi trễ hoặc về sớm trong những trường hợp cụ thể nào, hãy cùng Thủ tục pháp luật xem xét các quy định liên quan đến thời giờ làm việc và các quyền được đề cập trong pháp luật.

1. Thời giờ làm việc là gì?

"Thời gian làm việc" hoặc "thời gian làm việc" là khoảng thời gian mà một người làm việc hoặc một doanh nghiệp mở cửa để tiếp nhận khách hàng hoặc một tổ chức làm việc trong khoảng thời gian cố định hàng ngày. Thời gian làm việc thường được xác định trong hợp đồng lao động hoặc theo nội quy lao động của người sử dụng lao động.

2. Thời giờ làm việc bình thường của người lao động

Căn cứ theo Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 quy định thời giờ làm việc bình thường của người lao động như sau:

“1. Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.

2. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.

Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ đối với người lao động.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đúng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và pháp luật có liên quan.”

Như vậy, việc quy định rõ ràng thời giờ làm việc để người lao động có thể nắm rõ được các quy định này là cực kỳ quan trọng giúp bảo vệ quyền lợi và sức khỏe của người lao động trong quá trình lao động. Những quy định này giúp người lao động hiểu rõ về giới hạn thời gian làm việc và quyền lợi của họ, đồng thời cung cấp một khung hợp lý để quản lý thời gian làm việc.

3. Trường hợp người lao động được đi trễ, về sớm

* Căn cứ Khoản 3 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định người lao động nữ được nghỉ trong thời gian hành kinh như sau:

- Lao động nữ trong thời gian hành kinh có quyền được nghỉ mỗi ngày 30 phút tính vào thời giờ làm việc và vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. Số ngày có thời gian nghỉ trong thời gian hành kinh do hai bên thỏa thuận phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ nhưng tối thiểu là 03 ngày làm việc trong một tháng; thời điểm nghỉ cụ thể của từng tháng do người lao động thông báo với người sử dụng lao động;

- Trường hợp lao động nữ có yêu cầu nghỉ linh hoạt hơn so với quy định tại điểm a khoản này thì hai bên thỏa thuận để được bố trí nghỉ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ;

- Trường hợp lao động nữ không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý để người lao động làm việc thì ngoài tiền lương được hưởng theo quy định tại điểm a khoản này, người lao động được trả thêm tiền lương theo công việc mà người lao động đã làm trong thời gian được nghỉ và thời gian làm việc này không tính vào thời giờ làm thêm của người lao động.

Như vậy, quy định này không chỉ đề cập đến việc người lao động nữ được nghỉ 30 phút mỗi ngày trong thời gian hành kinh mà còn cho phép thỏa thuận về số ngày nghỉ trong thời gian này, tạo điều kiện linh hoạt và tùy thuộc vào điều kiện cụ thể tại nơi làm việc cũng như nhu cầu riêng của người lao động nữ.

* Căn cứ khoản 4 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định người lao động nghỉ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi:

- Lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi có quyền được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động;

- Trường hợp lao động nữ có nhu cầu nghỉ linh hoạt hơn so với quy định tại điểm a khoản này thì người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động để được bố trí nghỉ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ;

- Trường hợp lao động nữ không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý để người lao động làm việc thì ngoài tiền lương được hưởng theo quy định tại điểm a khoản này, người lao động được trả thêm tiền lương theo công việc mà người lao động đã làm trong thời gian được nghỉ.

Quy định rõ ràng về việc nghỉ cho người lao động nữ trong thời gian hành kinh và thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, thì ngoài ra luật lệ đã cung cấp các điều khoản linh hoạt và bảo vệ quyền lợi của người lao động nữ một cách chi tiết.

Kết luận

Có thể thấy rằng quy định không chỉ đề cập đến việc người lao động nữ được nghỉ trong thời gian hành kinh và thời gian nuôi con nhưng còn cho phép thỏa thuận về số ngày nghỉ cũng như việc nghỉ linh hoạt hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể tại nơi làm việc và nhu cầu riêng của người lao động nữ.

Tuy nhiên, để áp dụng các quy định này một cách hiệu quả, cần sự cộng tác chặt chẽ giữa người lao động và người sử dụng lao động. Điều này cũng cần sự linh hoạt và sự hiểu biết từ cả hai bên để tạo điều kiện làm việc tốt nhất cho cả người lao động và doanh nghiệp.

 

Phạm Diễm Thư
42 ngày trước
Người lao động được đi trễ, về sớm trong trường hợp nào?
Khi tham gia vào quá trình lao động thì thời giờ làm việc đóng vai trò rất quan trọng. Do đó, để hiểu rõ việc người lao động được đi trễ hoặc về sớm trong những trường hợp cụ thể nào, hãy cùng Thủ tục pháp luật xem xét các quy định liên quan đến thời giờ làm việc và các quyền được đề cập trong pháp luật.1. Thời giờ làm việc là gì?"Thời gian làm việc" hoặc "thời gian làm việc" là khoảng thời gian mà một người làm việc hoặc một doanh nghiệp mở cửa để tiếp nhận khách hàng hoặc một tổ chức làm việc trong khoảng thời gian cố định hàng ngày. Thời gian làm việc thường được xác định trong hợp đồng lao động hoặc theo nội quy lao động của người sử dụng lao động.2. Thời giờ làm việc bình thường của người lao độngCăn cứ theo Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 quy định thời giờ làm việc bình thường của người lao động như sau:“1. Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.2. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ đối với người lao động.3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đúng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và pháp luật có liên quan.”Như vậy, việc quy định rõ ràng thời giờ làm việc để người lao động có thể nắm rõ được các quy định này là cực kỳ quan trọng giúp bảo vệ quyền lợi và sức khỏe của người lao động trong quá trình lao động. Những quy định này giúp người lao động hiểu rõ về giới hạn thời gian làm việc và quyền lợi của họ, đồng thời cung cấp một khung hợp lý để quản lý thời gian làm việc.3. Trường hợp người lao động được đi trễ, về sớm* Căn cứ Khoản 3 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định người lao động nữ được nghỉ trong thời gian hành kinh như sau:- Lao động nữ trong thời gian hành kinh có quyền được nghỉ mỗi ngày 30 phút tính vào thời giờ làm việc và vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. Số ngày có thời gian nghỉ trong thời gian hành kinh do hai bên thỏa thuận phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ nhưng tối thiểu là 03 ngày làm việc trong một tháng; thời điểm nghỉ cụ thể của từng tháng do người lao động thông báo với người sử dụng lao động;- Trường hợp lao động nữ có yêu cầu nghỉ linh hoạt hơn so với quy định tại điểm a khoản này thì hai bên thỏa thuận để được bố trí nghỉ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ;- Trường hợp lao động nữ không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý để người lao động làm việc thì ngoài tiền lương được hưởng theo quy định tại điểm a khoản này, người lao động được trả thêm tiền lương theo công việc mà người lao động đã làm trong thời gian được nghỉ và thời gian làm việc này không tính vào thời giờ làm thêm của người lao động.Như vậy, quy định này không chỉ đề cập đến việc người lao động nữ được nghỉ 30 phút mỗi ngày trong thời gian hành kinh mà còn cho phép thỏa thuận về số ngày nghỉ trong thời gian này, tạo điều kiện linh hoạt và tùy thuộc vào điều kiện cụ thể tại nơi làm việc cũng như nhu cầu riêng của người lao động nữ.* Căn cứ khoản 4 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định người lao động nghỉ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi:- Lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi có quyền được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động;- Trường hợp lao động nữ có nhu cầu nghỉ linh hoạt hơn so với quy định tại điểm a khoản này thì người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động để được bố trí nghỉ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ;- Trường hợp lao động nữ không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý để người lao động làm việc thì ngoài tiền lương được hưởng theo quy định tại điểm a khoản này, người lao động được trả thêm tiền lương theo công việc mà người lao động đã làm trong thời gian được nghỉ.Quy định rõ ràng về việc nghỉ cho người lao động nữ trong thời gian hành kinh và thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, thì ngoài ra luật lệ đã cung cấp các điều khoản linh hoạt và bảo vệ quyền lợi của người lao động nữ một cách chi tiết.Kết luậnCó thể thấy rằng quy định không chỉ đề cập đến việc người lao động nữ được nghỉ trong thời gian hành kinh và thời gian nuôi con nhưng còn cho phép thỏa thuận về số ngày nghỉ cũng như việc nghỉ linh hoạt hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể tại nơi làm việc và nhu cầu riêng của người lao động nữ.Tuy nhiên, để áp dụng các quy định này một cách hiệu quả, cần sự cộng tác chặt chẽ giữa người lao động và người sử dụng lao động. Điều này cũng cần sự linh hoạt và sự hiểu biết từ cả hai bên để tạo điều kiện làm việc tốt nhất cho cả người lao động và doanh nghiệp.